Hiển thị các bài đăng có nhãn LSMTTG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LSMTTG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

Những cổ vật độc đáo của thế giới

Từ khi xuất hiện bầy người nguyên thủy tới nay, loài người đã sản sinh ra hàng tỷ những đồ vật khác nhau để phục vụ cuộc sống. Theo thời gian, có đồ vật bị tiêu hủy, biến mất vĩnh viễn. Nhưng có những thứ vẫn tồn tại và trở thành cổ vật vô cùng quý hiếm.
Dưới đây là 6 cổ vật được coi là độc đáo nhất thế giới hiện nay.
Tượng Vệ nữ Tan-Tan
Được phát hiện vào năm 1999, trong một cuộc khảo cứu do nhà khảo cổ học người Đức Lutz Fiedler tiến hành tại thị trấn Tan - Tan của Morocco. Tượng dài 6 cm, được đẽo từ đá và vẽ bằng màu đỏ phù sa. Tượng không có mặt và không xác định rõ giới tính.
 
Tượng Vệ nữ Tan-Tan.
 
Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn đánh giá đây là một trong những bức tượng mô tả nữ giới đầu tiên. Tượng được làm trong khoảng thời gian từ năm 300.000 - 500.000 trước Công Nguyên. Bức tượng này và tượng Vệ nữ Berekhat Ram, là một trong những tác phẩm mô tả hình dáng con người xuất hiện sớm nhất trong lịch sử.
Hộp Tiêu chuẩn của Ur
Chiếc hộp làm bằng gỗ có kích thước 21,59 x 49,53 cm, được khảm trai, đá vôi xanh và đỏ, được lấy từ lăng mộ hoàng gia của thành phố cổ Ur, nằm phía Nam Baghdad, Iraq hiện đại. Tác phẩm được tạo ra vào khoảng năm 2.600 - 2.400 trước Công Nguyên, được nhà khảo cổ người Anh, Sir Leonard Woolley tìm thấy trong những năm 1920. Mục đích sử dụng của chiếc hộp này không được làm rõ.
 
Hộp Tiêu chuẩn của Ur.
 
Hộp có hai mặt chính được gọi là “Chiến tranh” và “Hòa bình”. Mặt “Chiến tranh” mô tả hình ảnh quân đội Sumeria đang giao tranh, gồm những chiếc xe ngựa chiến 4 bánh đang nghiến nát kẻ thù, các chiến binh mặc giáp, cầm giáo và những người khác cầm rìu hoặc gươm lưỡi cong. Mặt này còn có hình ảnh các tù nhân, người bị thương, bị lột hết trang phục, bị làm nhục và bị đưa tới trình diện đức vua. Còn mặt “Hòa bình” mô tả cảnh buôn bán gia súc, cá và các hàng hóa khác, có thể là chiến lợi phẩm. Chiếc hộp này hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng nước Anh.
Chiếc bình Euphronios
Bình Euphronios (còn được biết tới với tên bình Sarpedon) là một chiếc bình đất nung Hy Lạp cổ, được sử dụng để pha nước lẫn rượu vang. Được tạo ra khoảng năm 515 trước Công Nguyên, đây là chiếc bình hoàn hảo nhất trong số 24 chiếc bình còn lại tới nay do họa sĩ lừng danh Euphronios tạo ra.
 
Chiếc bình Euphronios.
 
Bình Euphronios cao 45,7cm, đường kính 55,1cm, có thể chứa 45,7 lít nước. Bình được trang trí hai hoạt cảnh. Cảnh thứ nhất, được vẽ trước mặt bình, lấy bối cảnh cuộc chiến tranh Troa, miêu tả cái chết của Sarpedon, con trai của thần Zeus và Laodamia. Trong cảnh này, thần Hermes lệnh cho các thần Hypnos (Giấc ngủ) và Thanatos (Cái chết) mang thi thể Sarpedon về quê để mai táng. Hoạt cảnh này được giới phê bình nghệ thuật đánh giá cao, bởi Euphronios đã mô tả các tư thế rất tự nhiên của con người thời đó cũng như thể hiện sự chính xác về giải phẫu học.
 
Mặt sau của bình vẽ cảnh các thanh niên Athens sống trong thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên đang tự vũ trang trước khi ra trận. Cảnh này cũng được vẽ rất tự nhiên, sử dụng các kỹ thuật vốn được các họa sĩ vẽ bình khi đó sử dụng như mô tả chính xác về giải phẫu học, tạo dáng tự nhiên, ảo giác không gian... Chiếc bình có chữ ký của Euxitheos, người nặn bình và Euphronios. Việc một họa sĩ ký vào chiếc bình anh ta vẽ là rất bình thường nhưng việc có chữ ký của người nặn bình là điều hiếm gặp. Nó cho thấy rằng, chính Euxitheos cũng coi chiếc bình là một trong những sản phẩm hoàn hảo nhất do ông tạo ra.
 
Kho báu Mildenhall
 
Đây là một tập hợp 33 cổ vật bằng bạc có từ thời La Mã, được tìm thấy ở quận Suffolk, Anh quốc. Kho báu này được phát hiện vào năm 1942, bởi người thợ cày Gordon Butcher và người bạn Sydney Ford. Cả hai không hề biết họ đã tìm thấy một kho báu cho tới khi tin tức về việc đào được các cổ vật tới tai nhà chức trách vài năm sau đó.
 
Kho báu Mildenhall.
 
Kho báu này được xác định đã được chôn xuống đất vào thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên. Nó bao gồm một trong số các tác phẩm hoàn hảo nhất, mô tả kỹ thuật đúc bạc đã tới mức đỉnh cao của người La Mã. Trong số này, nổi bật nhất là chiếc Đĩa lớn với đường kính 605mm và nặng 8.256g. Chiếc đĩa tôn vinh thần rượu nho Bacchus, được trang trí bởi hoạt cảnh mô tả cảnh uống rượu thi giữa Bacchus và Hercules.
 
Mũ vàng Ezelsdorf-Buch
Đây là cổ vật ở thời đồ Đồng, được phát hiện vào năm 1953, ở làng Ezelsdorf và Buch, phía Nam nước Đức. Mũ Ezelsdorf-Buch là một trong số 4 chiếc mũ có hình dáng bắp ngô được tìm thấy. Ba chiếc khác nằm ở những khu vực khác nhau tại miền Nam nước Đức và có thể đã được tạo ra từ năm 1.000 - 900 trước Công Nguyên.
Mũ vàng Ezelsdorf-Buch
Chiếc mũ cao 88cm, có hình bắp ngô, được làm từ vàng cán mỏng. Trừ những phần đã bị mất đi do người dân vô tình làm hỏng khi tìm thấy, chiếc mũ nặng khoảng 330g, được trang điểm bởi 154 biểu tượng khác nhau, thường là những hình tròn, các đường ngang. Rất có thể chiếc mũ này đã được người dân thời đồ Đồng sống ở châu Âu sử dụng trong các nghi lễ linh thiêng.
Cuộc đi săn ngựa một sừng
Đây là một serie 7 tác phẩm thảm thêu được sản xuất trong giai đoạn từ 1495 - 1505. Các tấm thảm mô tả một nhóm nhà quý tộc và thợ săn đang truy đuổi một con ngựa một sừng. Những tấm thảm này đã được thêu theo lệnh của hoàng hậu Anne de Bretagne nhằm kỷ niệm hôn lễ của bà với Charles VIII, vua nước Pháp. Trong 7 tấm thảm, có những tấm đáng chú ý với nội dung lần lượt là: Phát hiện ngựa một sừng; Thợ săn dùng chó tìm ngựa một sừng; Thợ săn đuổi theo ngựa một sừng; Ngựa một sừng tự vệ; Ngựa một sừng bị bắt. Các tấm thảm đã thể hiện một trình độ thêu hoàn mỹ cũng như chứa đựng những nội dung hết sức giá trị.
 
Tác phẩm thảm thêu, mô tả một nhóm nhà quý tộc và thợ săn đang truy đuổi một con ngựa một sừng.
 
Các tấm thảm này ban đầu thuộc sở hữu của gia đình La Rochefoucauld ở Pháp trong vài thế kỷ. Năm 1922, John D. Rockefeller mua chúng với giá một triệu USD và tặng cho Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan, Mỹ vào năm 1937. Hiện chúng vẫn được trưng bày ở bảo tàng này.
 
Hương Giang
 
(  http://giadinh.net.vn )

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Kiến trúc thời đồ đá

Kiến trúc thời đồ đá: Bước đi đầu tiên của nhân loại

 - Xã hội nguyên thủy được chia làm ba giai đoạn: Thời kỳ đồ đá cũ, thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng.

Thời kỳ đồ đá cũ:


Những hình thức nhà ở thô sơ lúc bấy giờ như: Đào hầm trong lòng đất, khoét hang vào núi, lấy cây ghép thành liếp chắn gió, dần dần cải tiến thành lều tròn có mái chóp nón, hoặc nhà vuông mái dốc hai bên, nhà sàn với vật liệu thường làm bằng cành cây và miết đất.

Hiện nay còn tồn tại một số di chỉ như hang động Lanscaux có hình vẽ khắc họa những con nai, con ngựa, hang động Font de Game ở Pháp, hang động Pech Merle ở Lot thuộc nước Pháp…một số di tích còn sót lại của các liếp chắn gió ở Alsace, Pháp hay Olduvai, Tanzania…Sau này trong suốt 4 thế kỷ từ thế kỷ XV, người ta đã gặp những bộ lạc người da đỏ ở châu Mỹ vẫn sống trong thời kỳ đồ đá. Loại lều của họ được làm bằng vỏ cây hay bằng đất, có hình chóp nón hay hình vòm khum.

Thời kỳ đồ đá mới:

Thời kỳ này con người biết gia công kỹ đá, sử dụng công cụ đá có hiệu quả, nông nghiệp và chăn nuôi phát triển, con người từ bỏ cuộc sống du cư sang định cư và tôn giáo đã có mầm mống rõ rệt hoặc ở một số khu vực đã định hình. Ở thời kỳ này, chăn nuôi và trồng trọt phát triển, những công việc này do người phụ nữ đảm nhiệm nên chế độ xã hội chuyển sang mẫu hệ, không còn sống theo chế độ quần hôn.

Do nhu cầu định cư nên trong giai đoạn này, thôn xóm được hình thành, làng mạc tập trung hơn với những nhà có nhiều gian, mỗi gian có một lò bếp riêng. Nhà ở có thêm kho và chuồng súc vật chứng tỏ con người đã có sản phầm dư thừa và chăn nuôi được chú trọng. Quy hoạch kiến trúc của con người thời kỳ này cũng bắt đầu mang tính quy luật cao hơn. Nhà nước được đặt quanh sân, có nhà chính và nhà phụ, quanh làng có chướng ngại vật để bảo vệ, đó là hình thức phôi thai của các loại tường chắn và hàng rào ngày nay.

Nhiều làng xóm xuất hiện ở khắp nơi trên trái đất như ở Palestin vào Thiên niên kỷ IX trước CN, làng Scara Brey ở Irlanda… Các cộng đồng làng xóm này mới mở ra và còn lạc hậu nhưng nó là nguồn gốc của đô thị, là sự sơ khởi của những nền văn minh sơ khai cùng với việc phát minh ra chữ viết.

Thời kỳ này nhà ở bớt thô sơ hơn, ngoài đất đá còn có nhà sàn trên đất, nước. Vật liệu và kết cấu: Nhà có tường làm bằng cành cây trát đá, đất, có nơi có nền nhà làm bằng cả những tấm đất sét nung, mái nhà dốc.

Thời kỳ đồ đồng:

Một số loại hình kiến trúc thờ cúng đầu tiên nhắm đáp ứng nhu cầu tinh thần của người nguyên thủy ra đời. Đó là:

Phòng đá (hay còn gọi là thạch đài hay bàn đá): Ngôi mộ nguyên thủy là nơi mai táng và thờ cúng các lãnh chủ và phù thủy lúc bấy giờ. Đó là những công trình làm bằng 2 cột đá lớn dựng đứng, bên trên đặt một tấm đá ngang. Ban đầu kích thước của phòng đá nhỏ ( dài 2m và cao 1,5 m), dần dần được xây bằng các khối đá lớn hơn đặt cách nhau tới 20m và tấm đá lợp nặng tới hàng chục tấn.

Cách xây dựng phòng đá được dự đoán là : Đầu tiên người ta dựng những cột đá đứng trước, phủ đá và đất tới cột, nén chặt, tiếp đó đặt đòn khiên, con lăn trượt tấm đá mái lên. Sau đó tháo dỡ nền đá nhỏ, tháo đòn khiêng và con lăn.
Phòng đá tại Pháp.
Phòng đá tại Pháp.

Phòng đá được tìm thấy ở một số nơi như Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh. Phòng đá tìm thấy ở Đức, phía trên còn đắp đất như hình ngôi mộ đích thực.

Cột đá: Là những phiến đá dài có khi tới 20m, nặng 300 tấn được dựng làm cột độc lập, thân cột thường chạm khắc hình cây cối, người, vật. Có thể mỗi cột đá để kỉ niệm một người chết, cũng có thể tượng trưng cho lòng tin của con người đối với sức mạnh thiên nhiên.
Cột đá tại Pháp.
Cột đá tại Pháp.
Việc xây dựng cột đá được dự đoán là: Con người đẩy cột đá đến những chiếc hố đào sẵn, buộc dây vào đầu cột, kéo lên và cố định chân cột.

Lan can đá: Là một vòng tròn hoặc những vòng tròn đồng tâm, dựng nên bởi những cột đá, trên lợp các tấm đá dài tạo thành hình vòng tròn khép kín. Lan can đá dùng để cúng ma thuật, ở giữa là một tấm đá dùng để đặt vật hy sinh cho lễ cúng.
Lan can đá Salisbury nổi tiếng ở Stonehenge, nước Anh.
Lan can đá Salisbury nổi tiếng ở Stonehenge, nước Anh.
Lan can đá nổi tiếng nhất trong lịch sử kiến trúc là lan can đá Salisbury ở Stonehenge nước Anh. Có đường kính 90m, các thanh đá đứng còn lại hiện nay cao tời 5m, bên trong vòng đá trong cùng còn có 5 cổng đá (còn gọi là tháp đá, bao gồm hai thanh đá đứng cao từ 7 đến 8 m nối liền với một dầm đá ngang). Các cột đá làm thành lan can đá có cột nặng 32 tấn hay 50 tấn, muốn kéo và dựng lên phải dùng tới công sức hơn 200 con người hợp lại. Đây thực sự là một kỳ công của con người trong thời kỳ nguyên thủy.

Hình thức sơ khởi của đền thờ: Người nguyên thủy đã xây dựng những đền thờ kiểu sơ khai bằng đá, nó là mầm mống của những đền thờ sau này.

Tiêu biểu là đến thờ Mnajdra- thờ nữ thần mùa màng ở Malta. Đó là những không gian tạo dựng bằng đá có hình Elip thô sơ nhưng kiên cố, đền chưa có hình dáng hình học rõ nét, điều này phản ánh bởi vật liệu và kết cấu cũng như công cụ chế tác nên tính chuẩn tắc của hình thức kiến trúc còn hạn chế.
Đền thờ Mnajdra, Malta.
Đền thờ Mnajdra, Malta.
Kiến trúc thời nguyên thủy, ngoài việc đáp ứng yêu cầu cơ bản là đảm bảo những yêu cầu về công năng, đã bắt đầu quan tâm đến sự trang trí, đến cái đẹp. Những vết tích nói trên tuy không còn nguyên vẹn nhưng đã đánh dấu những bước đi đầu tiên của buổi bình minh nghệ thuật kiến trúc nhân loại.
(Tổng hợp từ Giáo trình Lịch sử Kiến trúc Thế giới- NXB Xây dựng)
( http://huc.edu.vn )