Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Sapa ( 2 ) - Nhà thờ cổ Sapa

Nhà thờ cổ Sapa


NTO - Nhà thờ cổ Sa Pa - Mang đậm nét kiến trúc La Mã 
 Ẩn hiện trong sương mù Sapa là một tu viện cổ kính, đẹp nguy nga, huyền bí, được người Pháp xây vào cuối thế kỷ XVIII, dấu ấn kiến trúc của người Pháp còn lại vẹn toàn nhất. Bất cứ ai nhìn thấy nó đều ngạc nhiên vì thời kỳ đó đã có một công trình vừa đồ sộ vừa cầu kỳ một cách lạ thường.
 Ẩn hiện trong sương mù Sapa là một tu viện cổ kính, đẹp nguy nga, huyền bí, được người Pháp xây vào cuối thế kỷ XVIII, dấu ấn kiến trúc của người Pháp còn lại vẹn toàn nhất. Bất cứ ai nhìn thấy nó đều ngạc nhiên vì thời kỳ đó đã có một công trình vừa đồ sộ vừa cầu kỳ một cách lạ thường.
 Trước khi đặt những viên gạch móng đầu tiên cho công trình này, những người kiến trúc sư Pháp đã chọn lựa rất kỹ địa thế để xây dựng. Có thể nói người Pháp đã rất tài tình khi chọn thế đất ẩn khuất để xây tu viện này. Nhà thờ Sa Pa toạ lạc trên một vị trí đắc địa với phía sau là núi Hàm Rồng che chắn, phía trước là khu đất rộng, bằng phẳng, có thể phát triển nhiều công trình văn hóa phục vụ cho các hoạt động xã hội.
Đặc biệt, nhà thờ ở vị trí trung tâm của thị trấn Sa Pa, đứng ở bốn phía đều có thể quan sát được di tích, cùng với hai công trình kiến trúc khác cũng do người Pháp xây dựng là biệt thự Chủ Cầu (nay là khách sạn Hoàng Liên) và khu huyện ủy cũ (nay là trụ sở của Trung tâm Thông tin Du lịch Lào Cai) tạo thành một hình tam giác cân đối với kiến trúc riêng biệt mang phong cách Pháp. Việc chọn hướng của nhà thờ có ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với người Công Giáo: Đầu di tích quay về phía Đông, là hướng mặt trời mọc, hướng đón nguồn sáng Thiên Chúa. Cuối nhà thờ (khu Tháp chuông) là hướng Tây, nơi sinh thành của Chúa Kito.
 
                                                                   Chiều nhà thờ đá
Khi đến gần chúng ta sẽ không khỏi những bất ngờ khi nhìn thấy những trụ, cột, được đục bằng đá ghép lại với nhau bằng chất liệu vôi mật thật kỳ công và khéo léo. Hình dạng và kiến trúc của Nhà thờ được xây hình thập giá theo kiến trúc Gothique La Mã, kiến trúc đó thể hiện ở mái nhà, tháp chuông, vòm cuốn,…đều là hình chóp tạo cho công trình nét bay bổng thanh thoát.
Toàn bộ nhà thờ được xây bằng đá đẽo, tường, nền nhà, tháp chuông, sân nhà thờ, bờ kè xung quanh được liên kết với nhau bằng hỗn hợp của cát, vôi và mật mía. Phần tường của cánh thánh giá bên phải được tạo nhám như nhũ đá chảy xuống làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên cho di tích. Mái nhà lợp ngói, trần nhà bằng vôi rơm (nay làm mới), đặc biệt trần ở phần gác chuông (gần quả chuông) là hỗn hợp của vôi, rơm, sắt, chưa sửa chữa lần nào.
NTO - Nhà thờ cổ Sa Pa - Mang đậm nét kiến trúc La Mã 
Trầm mặc trong tuyết trắng
Với tổng diện tích của khuôn viên nhà thờ hơn 6.000m², nhà thờ Sa Pa có đủ chỗ cho việc bố trí các khu bao gồm: Khu nhà thờ, dãy nhà xứ, nhà ở của thầy tu, nhà chăn nuôi, nhà thiên thần, phần sân phía trước, hàng rào, khu Vườn Thánh. Dãy nhà xứ xây song song với khu nhà thờ, gồm 5 gian: Gian gần với tháp chuông là phòng nghỉ của Cha xứ, gian gần với cung thánh là phòng của Đức Cha, ba gian giữa là phòng khách.
NTO - Nhà thờ cổ Sa Pa - Mang đậm nét kiến trúc La Mã
Mặt hông của nhà thờ
Nhà thiên thần gồm: một tầng hầm, ba gian tầng trên là nơi cứu chữa người bệnh tật, người lữ hành qua đêm, khu để xác, công trình vệ sinh, bếp ăn…, khu vườn thánh có hai ngôi mộ, 5 cây Kháo Vàng trên trăm năm, trong đó 4 cây mọc trên đá. Khu nhà thờ gồm 7 gian rộng hơn 500m², phần tháp chuông cao 20m, trong tháp có quả chuông cao 1,5m, đúc năm 1932, nặng 500kg, tiếng vang trong vòng bán kính gần 1km, trên bề mặt của chuông còn rõ nét ghi đúc, số người quyên góp tiền đúc chuông. Phần giá đỡ chuông bằng gỗ Pơ Mu vẫn giữ nguyên sau lần trùng tu.
NTO - Nhà thờ cổ Sa Pa - Mang đậm nét kiến trúc La Mã 
Kiến trúc bên trong nhà thờ
Tuy qua một số lần trùng tu, cải tạo do chiến tranh và sự tàn phá khốc liệt của thiên nhiên nhưng nhà thờ vẫn giữa được nét duyên dáng và cái hồn của một công trình kiến trúc tôn giáo. Từ khi được xây dựng đến nay, nhà thờ Sa Pa luôn là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động 
( văn hoá truyền thống của các dân tộc nơi đây.
Ngay phía trước Nhà thờ là khu vực Sân quần và hàng thông lưu niên, nơi đây vào mỗi tối thứ 7 hàng tuần thường diễn ra các sinh hoạt văn hoá độc đáo của các dân tộc thiểu số mà du khách quen gọi với cái tên “chợ tình”. Với tiếng sáo, kèn lá, đàn môi dìu dặt, tha thiết và những điệu xoè chao nghiêng của những chàng trai, thiếu nữ người Mông, Dao,… Cùng với hoạt động cầu nguyện diễn ra trong những ngày cuối tuần tạo cho không gian của Nhà thờ thêm lung linh, huyền ảo và có sức lôi cuốn lạ thường. Với nét trầm mặc như bản chất vốn có, Nhà thờ Sa Pa vẫn ẩn dấu nhiều bí ẩn còn đang ngủ yên chờ đợi được khám phá. 
(  http://tungcano.wordpress.com )

Sapa ( 1 )

Vị trí

Sa Pa nằm trên một mặt bằng ở độ cao 1500 đến 1650 mét ở sườn núi Lô Suây Tông. Đỉnh của núi này có thể nhìn thấy ở phía đông nam của Sa Pa, có độ cao 2228 mét. Từ thị trấn nhìn xuống có thung lũng Ngòi Dum ở phía đông và thung lũng Mường Hoa ở phía tây nam.

  Địa hình - Khí hậu

Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sa Pa ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển , cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km tính từ Hà Nội . Ngoài con đường chính từ thành phố Lào Cai, để tới Sa Pa còn một tuyến giao thông khác, quốc lộ 4D nối từ xã Bình Lư , Lai Châu .
 Mặc dù phần lớn cư dân huyện Sapa là những người dân tộc thiểu số, nhưng thị trấn lại tập trung chủ yếu những người Kinh sinh sống bằng nông nghiệp và dịch vụ du lịch .
Sa Pa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ quanh năm. Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân , buổi trưa tiết trời như vàohạ , , thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét của mùa đông . Nhiệt độ không khí trung bình năm của Sa Pa là 15 °C. Mùa hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển, khoảng 13 °C – 15 °C vào ban đêm và 20 °C – 25 °C vào ban ngày. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0 °C, đôi khi có tuyết rơi. Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến 2.200 mm , tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8.
Thị trấn Sa Pa là một trong những nơi hiếm hoi của Việt Nam có tuyết. Trong khoảng thời gian từ 1971 tới 2011 , 15 lần tuyết rơi tại Sa Pa. Lần tuyết rơi mạnh nhất vào ngày 13 tháng 2 năm 1968, liên tục từ 3 giờ sáng đến 14 giờ cùng ngày, dày tới 20 cm

Lịch sử

Năm 1897, chính quyền thuộc địa Pháp quyết định mở một cuộc điều tra về người dân tộc thiểu số miền núi vùng cao. Những đoàn điều tra đầu tiên đến Lào Cai vào năm 1898.
Mùa đông năm 1903, trong khi tiến hành đo đạc xây dựng bản đồ, đoàn thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh quan mặt bằng Lồ Suối Tủng và làng Sa Pả. Sự kiện này đánh dấu việc ra đời của thị trấn Sa Pa
Năm 1905, người Pháp đã thu thập được những thông tin đầu tiên về địa lý, khí hậu, thảm thực vật... Sa Pa bắt đầu được biết tới với không khí mát mẻ, trong lành và cảnh quan đẹp. Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng. Năm 1917, một văn phòng du lịch được thành lập ở Sa Pa và một năm sau, người Pháp bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên. Năm 1920, tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai hoàn thành, Sa Pa được xem như thủ đô mùa hè của Bắc Kỳ. Tổng cộng, người Pháp đã xây dựng ở Sa Pa gần 300 biệt thự.
Sa Pa bị tàn phá nhiều theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến năm 1947 và trong chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979.[2] Hàng ngàn ha rừng thông bao phủ thị trấn bị đốt sạch, nhiều toà biệt thự cổ do Pháp xây cũng bị phá huỷ. Vào thập niên 1990, Sa Pa được xây dựng, tái thiết trở lại.
Nhiều khánh sạn, biệt thự mới được xây dựng. Từ 40 phòng nghỉ vào năm 1990, lên tới 300 vào năm 1995. Năm 2003, Sa Pa có khoảng 60 khách sạn lớn nhỏ với 1.500 phòng. Lượng khách du lịch tới Sa Pa tăng lên từ 2.000 khách vào năm 1991 đến 60.000 khách vào 2002.

Nguồn gốc tên gọi

Tên Sa Pa có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại.[cần dẫn nguồn] Trong tiếng Quan Thoại phát âm là SaPả hay SaPá tức "bãi cát" do ngày trước khi có thị trấn Sa Pa thì nơi đây chỉ có một bãi cát mà dân cư bản địa thường họp chợ.
Từ hai chữ "Sa Pả", người phương Tây phát âm không dấu, thành Sa Pa và họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó thành "Cha Pa" và một thời gian rất dài sau đó người ta dùng "Cha Pa" như một từ tiếng Việt. Về sau, từ này viết được thống nhất là Sa Pa.
Thị trấn Sa Pa trước đây có một mạch nước đùn lên màu đỏ đục, nên dân địa phương gọi là "hùng hồ", tức "suối đỏ".  

Dân cư

Đây là nơi sinh sống của dân cư 06 dân tộc Kinh, H'Mông, Dao đỏ, Tày, Giáy, Xã Phó.
Các dân tộc ở Sa Pa đều có những lễ hội văn hóa mang nét đặc trưng:
Hội roóng pọc của người Giáy vào tháng giêng âm lịch.
Hội sải sán (đạp núi) của người H'Mông.
Lễ tết nhảy của người Dao diễn ra vào tháng tết hàng năm.
Những ngày phiên chợ ở Sa Pa nhộn nhịp vào tối thứ bảy kéo dài đến chủ nhật hàng tuần. Chợ Sa Pa có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách từ phương xa tới. Người ta còn gọi nó là "chợ tình Sa Pa" vì ở đây nam nữ thanh niên người dân tộc H'Mông, Dao đỏ có thể nhờ âm thanh của khèn, sáo, đàn môi, kèn lá hay bằng lời hát để tìm hay gặp gỡ bạn tình.

Những địa điểm nổi tiếng

Vào thập niên 1940, người Pháp đã quy hoạch, xây dựng Sa Pa thành nơi nghỉ mát, điều dưỡng khá lý tưởng. Ở đây có đầy đủ hệ thống thủy điện, trạm nước, dinh toàn quyền, toà chánh sứ, sở than, kho bạc, kiểm lâm, hệ thống đường nhựa và đặc biệt là hơn 200 biệt thự theo kiểu phương Tây ở ngay trung tâm thị trấn, nằm xen giữa những cánh rừng đào và những rặng samu. Điều này làm cho thị trấn này mang nhiều dáng dấp của một thành phố châu Âu.
Các dịch vụ du lịch của Sa pa được các du khách ngoại quốc đánh giá khá tốt. Một số khách sạn ở Sapa như Violet, Royal, Vitoria,... được xây dựng khoảng 2004 đáp ứng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước khá tốt.
Sa Pa có nhiều cảnh đẹp tự nhiên như thác Bạc cao khoảng 200 m, cầu Mây là một di tích lịch sử của người dân tộc, cổng Trời là điểm cao nhất mà đường bộ có thể đi tới để đứng ngắm đỉnh Phanxipan, rừng Trúc, động Tả Phìn, bãi đá cổ Sa Pa nằm trong thung lũng Mường Hoa. Hàm Rồng là nơi trồng rất nhiều loại hoa, màu sắc sặc sỡ và được trồng theo từng khuôn viên. Ở nơi đây cũng có vườn lan với nhiều loại hoa quý hiếm.



Một phần thị trấn Sa Pa nhìn từ núi Hàm Rồng

Sa Pa có đỉnh Phan Si Păng cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn. Dãy Hoàng Liên Sơn có nhiều loài gỗ quý và chim thú như gà gô, gấu, khỉ, sơn dương. Trong khu rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn còn có đến 136 loài chim, 56 loài thú và 553 loài côn trùng. Có 37 loài thú được ghi trong sách đỏ Việt Nam.

Vườn hoa Hàm rồng được xây dựng theo địa thế tự nhiên của đỉnh Hàm rồng, để tham quan vườn hoa, du khách phải leo một chặng đường dài hàng ngàn bậc đá. Cứ cách một đoạn ngắn, cảnh trí lại trải ra trước mắt đó là vườn lan tự nhiên, vườn châu Âu, rừng hoa đào... điểm cuối cùng là điểm cao nhất của đỉnh Hàm Rồng được bố trí như một đài quan sát, từ đây du khách có thể phóng tầm mắt thu toàn bộ thị trấn Sa Pa vào tầm mắt của mình. Sa Pa có núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, bất kỳ du khách nào cũng có thể lên đó để ngắm toàn cảnh thị trấn, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói. Hiện nay, với bàn tay tôn tạo của con người, Hàm Rồng thực sự là một thắng cảnh đầy hoa trái của Sa Pa.
Và, nếu ai đã đến Thạch Lâm (Vân Nam, Trung Quốc) thì Hàm Rồng cũng có thể giúp các bạn tưởng tượng là Thạch Lâm được. Lên Hàm Rồng, du khách như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất.
Sa Pa còn có nhà thờ cổ ở ngay thị trấn và từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc, trên đường đi tới động Tả Phìn lại có một tu viện được xây gần toàn như bằng đá tại một sườn đồi quang đãng, thoáng mát. Qua tu viện đi bộ ba cây số theo hướng bắc ta đến một hang động với độ rộng có thể đủ chứa một số lượng người cỡ trung đoàn của quân đội. Trong hang nhiều nhũ đá tạo nên những hình thù kỳ thú như hình tiên múa, đoàn tiên ngồi, cánh đồng xa, rừng cây lấp lánh. Tại Tả Phìn này với hai tộc người là Mông và Dao đã tạo nên cơ sở sản xuất mặt hàng thổ cẩm xuất bán cho cả nước và nước ngoài khá nổi tiếng.

Đặc biệt thung lũng Mường Hoa có 196 hòn chạm khắc nhiều hình kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách đây hàng ngàn vạn năm mà nhiều nhà khảo cổ học vẫn chưa giải mã được những thông tin đó. Khu chạm khắc cổ đã được xếp hạng di tích quốc gia và đang được Nhà nước ta đề nghị xếp hạng di sản thế giới. Chúng ta ngước nhìn lên Thác Bạc từ độ cao trên 200 m những dòng nước đổ ào ào tạo thành âm thanh núi rừng và mưa xuân.
Sa Pa là “vương quốc” của hoa trái, như đào hoa, đào vàng to, đào vàng nhỏ, mận hậu, mận tím, mận tam hoa, hoa lay dơn, hoa mận, hoa lê, hoa đào, hoa cúc, hoa hồng…đặc biệt là hoa bất tử sống mãi với thời gian…

Sa Pa với 6 tộc người cũng cư trú, mỗi tộc người có một vốn văn hoá riêng. Đặc trưng nổi bật của Sa Pa là lễ hội “Roóng pọc” của ngườI Giáy Tả Van vào ngày Thìn tháng giêng âm lịch, cùng với lễ hội Roóng pọc còn hội “Sải Sán” (đạp núi) của người Mông, lễ “Tết nhảy” của người Dao đỏ, tất cả đều diễn ra vào tháng tết hàng năm.

 Các địa điểm du lịch khác

Các địa điểm du lịch khác trong khu vực bao gồm:
- Núi Fansipan
- Bản Cát cát , Bản Sún Chải , Bản Tả Van , Bản Hồ
- Thác Bạc , Thác Tình Yêu , Tà Giàng Phình
- Đèo Ô Quy Hồ , Nhà Thờ cổ  


( Theo http://vi.wikipedia.org )

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

Kính nghệ thuật



Sử dụng vật liệu kính nghệ thuật trong trang trí nội ngoại thất không chỉ giúp “biến hóa” không gian theo ý muốn mà còn giúp ngôi nhà trở nên rạng rỡ, sang trọng và hấp dẫn hơn.
Sản phẩm kính trang trí nghệ thuật rất đa dạng về chủng loại và phong phú về kiểu dáng, bao gồm kính ghép màu, kính vẽ màu và thủy tinh ghép mảnh. Chúng được sử dụng ở hầu hết các không gian từ phòng khách, phòng ngủ đến các chi tiết như trần, tường, vách ngăn….


Kính nghệ thuật tạo nét sang trọng và độc đáo - beppro.vn
Kính nghệ thuật tạo nét sang trọng và độc đáo

Khi được phối kết trên trần, kính nghệ thuật làm cho không gian nội thất cao và hoành tráng. Hơn nữa về mặt công năng thì những ngôi nhà bị hạn chế về mặt thoáng, thiếu ánh sáng tự nhiên, trần kính sẽ là giải pháp làm lấy sáng cho căn phòng. Còn khi dùng ở mặt dựng, đại sảnh, cửa sổ kính trang trí làm cho không gian trở nên khoáng đạt.

Trần nhà trở nên cao và cuốn hút hơn khi được sử dụng bằng kính nghệ thuật - beppro.vn
Trần nhà trở nên cao và cuốn hút hơn khi được sử dụng bằng kính nghệ thuật

Kính nghệ thuật rất đa dạng về đề tài nên có thể đáp ứng được nhu cầu, sở thích của nhiều gia chủ, có thể là họa tiết hình ảnh của thiên nhiên hay ngẫu hứng và tùy theo từng vị trí mà vật liệu này được bố trí tạo tác cho phù hợp. Những bức tường trong phòng khách, phòng ngủ hay phòng tắm của gia đình bạn sẽ trở nên hấp dẫn hơn khi được trang trí bằng những tấm kính nghệ thuật với hoa văn độc đáo.

Họa tiết và hoa văn đa dạng của kính đáp ứng được mọi sở thích của các gia chủ - beppro.vn
Họa tiết và hoa văn đa dạng của kính đáp ứng được mọi sở thích của các gia chủ
Ngoài vai trò lấy sáng và trang trí nội ngoại thất thì kính nghệ thuật còn được sử dụng để ngăn chia không gian trong nhà ở. Với tính chất “ngăn mà không cách”, những bức vách kính này sẽ làm tăng giá trị vẻ đẹp cho không gian nội thất, là điểm nhấn sinh động cho căn phòng, đồng thời tạo cảm giác thoáng đãng và thân thiện.



Kính vừa giúp ngăn chia không gian hiệu quả, vừa tạo được điểm nhấn cho căn phòng - beppro.vn
Kính vừa giúp ngăn chia không gian hiệu quả, vừa tạo được điểm nhấn cho căn phòng
 
Xuất phát từ sở thích của nhiều gia chủ, kính nghệ thuật còn được sử dụng ở những không gian phụ như phòng tắm, phòng vệ sinh, cầu thang….ngoài các không gian sinh hoạt chính như phòng khách hay phòng ngủ.
Cầu thang trở nên bắt mắt hơn - beppro.vn
Cầu thang trở nên bắt mắt hơn

Những chi tiết trang trí trong nhà như chụp đèn, tranh kính…khi được phối hợp sẽ tạo nên vẻ đẹp độc đáo và cuốn hút. - beppro.vn
Những chi tiết trang trí trong nhà như chụp đèn, tranh kính…khi được phối hợp sẽ tạo nên vẻ đẹp độc đáo và cuốn hút.
Tuy nhiên, khi sử dụng kính nghệ thuật để trang trí trong phòng trẻ nên chú ý tránh để những góc sắc nhọn, cạnh vuông chìa ra bên ngoài có thể gây nguy hiểm khi trẻ chơi đùa. 
 (http://dothi.net)

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Kiểu giường mới làm từ đồng thau và niken

Là người yêu thích phong cách truyền thống, sự thanh lịch và phong cách, chắc hẳn bạn sẽ yêu thích kiểu giường mới, được làm từ đồng thau và Niken này.
Chúng đều được làm thủ công với những chi tiết độc đáo từ đồng thau nguyên chất, sau đó được đánh bóng một lớp Niken bên ngoài. Sự kết hợp cùng những thiết kế của phong cách Victoria, tạo cho kiểu giường này vẻ đẹp hiện đại, và đẹp mắt.

Nét sang trọng và quyến rũ khiến cho bất kỳ ai được trải nghiệm trên kiểu giường mới này đều có cảm giác như mình là một ông vua, hay một vị hoàng hậu.
Bộ sưu tập gồm nhiều thiết kế đẹp mắt, chúng khác nhau về kiểu dáng nhưng đều mang vẻ đẹp thanh lịch và phong cách. Mỗi thiết kế gồm 4 size với các đường nét giản đơn, chi tiết tinh tế, pha trộn hài hòa giữa nét truyền thống và hiện đại.

Để sở hữu một chiếc giường như thế, bạn phải cân nhắc kỹ khi chọn nội thất đi kèm, tránh tạo ra sự tương phản không đẹp mắt. Một chiếc đèn chùm cầu kỳ và quyến rũ sẽ rất hợp để trang trí cùng chiếc giường này. Trang trí trong phòng ngủ nên đơn giản, và không nên lạm dụng nhiều chi tiết trang trí quá mức.

Một chiếc đèn chùm quyến rũ trong phòng sẽ làm cho chiếc giường ngủ trở nên sang trọng hơn.
(Theo dothi.net))

  

Sàn tre


Sản phẩm xanh thân thiện với môi trường
 Hiện nay, sản phẩm sàn tre đang được áp dụng, phát triển rất nhanh, giúp cân bằng sinh thái với các sản phẩm sàn gỗ tự nhiên.
Đặc điểm của cây tre là chỉ trong vòng 6 năm là đã có thu hoạch đưa vào sản xuất, do vậy, việc sử dụng ván sàn tre được xem là một đóng góp tích cực để bảo vệ các khu rừng nhiệt đới tại châu Á, châu Mỹ và bảo vệ môi trường sống hiện đang bị đe dọa bởi nạn phá rừng bừa bãi của con người.
Ván sàn tre được sản xuất theo công nghệ ép sợi và xử lý nhiệt tiên tiến, giúp tăng tính bền vững, đặc biệt giảm âm, cách âm tốt hơn so với các thành phẩm khác. Trong quá trình sản xuất bằng áp suất lớn, sản phẩm ván sàn tre có độ chống thấm, chống rạn nứt gần như tuyệt đối; công nghệ mới tạo cho ván sàn tre có những hoa văn đặc biệt sống động đạt độ tự nhiên như sản phẩm gỗ tự nhiên.
Sản xuất ván sàn tre hoàn toàn không tạo ra các chất thải có hại cho môi trường, điều đó càng làm tăng giá trị kinh tế, đầu tư của các nhà sản xuất, giúp cho sản phẩm ván sàn tre có tính cạnh tranh về giá khi sản phẩm ra đến thị trường. Sản phẩm này trên thị trường các màu sáng tối tùy theo sự thiết kế phối màu của công trình. Độ dầy của ván chia theo 6 loại khác nhau: 3 lớp, 2 lớp, loại thường, UV-dầu, UV-bóng, không bóng, trắng tự nhiên...
Trên thị trường hiện đang xuất hiện nhiều thương hiệu ván sàn tre như ván sàn tre Strandwoven, ván sàn tre Ali, Licomi, ván sàn tre IXI…
(Theo dothi..net)

Nem vuông phố cổ


Bản thân là một người không hề mặn mà với các món “nem công chả phượng” nhưng sau một lời “dụ dỗ” rằng: “Nem quán này đỉnh nhất khu phố cổ, không ăn thử thì phí hoài” nên cuối cùng tôi đã tới đây khám phá.
Chúng tôi tìm đến con phố Đào Duy Từ vào một buổi trưa cuối tuần. Mới đặt chân đến đầu phố, tôi dã dễ dàng phát hiện ra ngay quán “Nem vuông phố cổ”. Không phải vì nhà hàng bắt mắt hay biển bảng gì hoành tráng, mà trái lại, chỉ bởi vì nó là quán vỉa hè tuềnh toàng, rổ nem rồi bếp rán nem, rau, bún, bát đĩa… cứ lồ lộ ra ngoài mặt đường, đó là chưa kể tới dãy khách ngồi nhấp nhô khá đông xếp dài ngay phía đối diện cũng khiến bất kì ai phải chú ý.
Dù chưa cần thưởng thức nhưng tôi đã kịp nhìn ra sự khác biệt của món nem quán này. Đúng như cái tên, những chiếc nem mang hình thù độc đáo hơn, không phải loại nem dài dài có thân tròn mà cái nào cái nấy được gói gém vuông vắn tựa những chiếc bánh chưng “mini”, cũng có dây lạt buộc quanh mình. Nhưng không chỉ đặc biệt về ngoại hình, chất lượng bên trong mới là thứ khiến món nem vuông này trở nên tiếng tăm.
Cũng là một con “ma ăn uống” chuyên lê la khu phố cổ, đã từng có dịp nếm qua nhiều hàng bún nem có tiếng quanh đây, điển hình như nem cua bể phố Hàng Đồng, song hầu hết chẳng hề để lại cho tôi chút ấn tượng nào. Vậy mà đến đây, chỉ với miếng nem “demo” đầu tiên, tôi đã thấy “khoái” ngay. Vỏ nem hơi dày nhưng lúc nào cũng giòn tan dù bạn có để nguội đến mấy. Nhân nem thì đậm đà, thơm bùi vị thịt cua rõ ràng, thưởng thức thấy ra mùi ra vị đàng hoàng chứ không phải kiểu "chạy qua hàng cua" tí ti cua thôi đâu. Nước chấm của quán cũng pha chế khéo léo, nhờ thế càng khiến món nem vuông trở nên “ăn điểm”.
Quả thật, cái vị thơm thơm, bùi bùi khiến nem vuông quán này không hề ớn ngấy hay đơn điệu như nhiều nơi khác. Có lẽ nhờ thế mà nó giúp tôi – kẻ vốn chúa ghét các loại “nem công chả phượng” lập kỉ lục: lần đầu tiên trong đời, sau một suất bún nem, tôi đã không ngần ngại gọi thêm một vài chiếc nem nữa để thưởng thức cho no nê, đã miệng thì thôi.
Ngoài ra, cái hay khi tới đây ăn bún nem là tôi được nhâm nhi thêm một món ngon “khét tiếng” của khu phố cổ: trà chanh ngòn ngọt, thơm mát của quán trà chanh nổi tiếng trong giới teen. Và đó cũng chính là thói quen của nhiều khách hàng khi đến phố Đào Duy Từ thưởng thức bún nem vuông phố cổ.
Địa chỉ: Nem vuông phố cổ 35 Đào Duy Từ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
( http://www.zing.vn  ) 
Hoàng Nhi
Theo Infonet

Con Nghê

Con Nghê - Một Biểu Tượng Tạo Hình Thuần Việt
  
Ý nghĩa
Nghê là con vật huyền thoại có từ rất lâu đời giống như sư tử. Nghê là vật bảo vệ và canh giữ cửa ngôi nhà. Vì vậy, trong mỗi đình chùa ta thường thấy có tượng hai con nghê đá canh cửa. Trong Phong Thuỷ, tượng nghê thường dùng trấn giữ cửa nhà, hoá giải hung khí chiếu tới khi đối diện với của nhà khác, bị ngã ba, ngã tư, đường vòng, hoặc góc nhọn chiếu vào cửa nhà. Nghê cũng dùng để hoá giải hung khí các Sao Sát Khí chiếu mỗi năm.
Nghê thường được đặt đứng vững chắc trên bệ đá. Con đực thường ôm quả cầu ngọc chỉ ra sự quan trọng của liên kết làm ăn trên pham vi không gian, toàn cầu và bảo vệ bạn bất kỳ đâu trên trái đất. Trong khi con cái ôm một đứa con nhỏ, nói lên sự bảo vệ hôn nhân và bền vững của gia đình.
Mẹo thuật dân gian
Con đực đặt bên trái (Từ hướng nhìn ra từ bên trong nhà bạn) và con cái bên phải (Từ hướng nhìn ra từ bên trong nhà bạn)

Ngê đồng, thế kỷ I-III Đỉnh gốm men rạn có nắp thời Lê, tháng 4 niên hiệu Vịnh Hựu 2 (1736) Tượng nghê gỗ chạm, triều Nguyễn thế kỷ XIX
Con nghê - đồ án trang trí đặc sắc bắt đầu có ở nước ta từ bao giờ trong các chốn uy nghiêm như lăng tẩm, cung điện, đền, khán thờ, tấm chạm, cột, đầu đao đình làng và gắn liền trên các đồ vật như: hoành phi câu đối, đỉnh hương, chân đèn, dấu, ấn, triện, nắp chóe, vật bày thờ, nóc bình vôi hay thậm chí cả trên cái chặn giấy...? phải chăng các nghệ nhân muốn tạo nên con Nghê như một biểu tượng thuần việt?.
Nghê - con vật biểu trưng mang yếu tố huyền thoại, dũng mãnh, thiên biến vạn hóa,  tượng trưng cho trí tuệ, là biến thể từ sư tử và chó dữ, có sức mạnh như chúa tể muôn loài. (Khi nghê hóa rồng biểu tượng cao cho quyền lực chính trực; khi nghê có mình chó thể hiện lòng trung thành; khi nghê có đuôi vút cao liên tưởng đến ngọc như ý; khi nghê đội giá sớ hay bài vị, thường toát ra vẻ cam chịu; khi nghê ngậm ngọc biểu tượng độc đáo của sự khôn ngoan (suy nghĩ, uốn lưỡi và lựa lời trước khi  nói); khi nghê đứng chầu hai bên khán thờ vẻ uy nghiêm; khi nghê đeo lục lạc hay rỡn hí cầu… thể hiện sự tinh nghịch,vui tươi; khi nghê có lông hình xoắn ốc  như trên đầu tượng phật mà người ta gọi là Phật ốc, Bụt ốc thể hiện sức mạnh toàn năng, phi phàm). Bằng  nghệ thuật tạo dáng và kỹ thuật chạm khắc tinh tế, người nghệ nhân đã thể hiện những cảm thức sáng tạo và khiếu thẩm mỹ đặc sắc, nhất là khi nền văn hóa thuần Việt phục hồi sau hàng ngàn năm Bắc thuộc.
Ngay từ thế kỷ (TK) I đến TK III, ở ta đã có tượng nghê đồng (hình 1). Đời Lý đã có tượng nghê ở hai nậm rượu. Từ TK XIII - XIV tới thời Chu Đậu (TK XVI - XVII) Nghê có trong bát hương và các bình trầm hương (Hình 2). Với nhiều  loại chất liệu khác nhau, nghê được tạo từ đồng, gỗ chạm đến gốm tráng men các màu (hình 3). Ngoài ra còn có nghê đá đứng chầu hai bên cùng hai cây hương tại đền lăng của đại quan Vũ Vĩnh Tiến thời hậu Lê, xây năm 1660, tại Phù Mỹ - Đô Lương - Ân Thi (Hải Hưng). Các triều đại phong kiến Việt Nam trải qua bao biến động thăng trầm từ nhà Lý (TK XI) cho đến cuối đời Tây Sơn (TK XVIII), mà sự phát triển của kiến trúc đình, chùa, sự giàu có của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi ngày một nhiều những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày, gắn với  thời thịnh đạt nhất của con nghê. Thời Pháp thuộc, nhiều học giả Pháp đã chú ý đến con nghê qua những hình vẽ bằng bút sắt khá thú vị (Hình 4).
Hình Lân chạm đá chùa Linh Quang, Hải Phòng, 1794 Tượng sư tử, đồng, triều Nguyễn, TK XIX Nghê men nhiều màu, triều Mạc - Lê Trung Hưng, TK XVI-XII
Nhiều người dễ bị nhầm lẫn giữa con nghê với con lân – một trong “Tứ linh”. Nếu không để ý kỹ cũng khó phân biệt giữa nghê - con vật được biến tấu từ sư tử và cả chó cộng thêm sự sáng tạo của nghệ nhân. So sánh lân (Hình 5) với nghê, có thể suy luận nghê là linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam, còn lân thuộc văn hoá Trung Hoa. Lân giống sư tử nhiều hơn, có sừng, thân hình tròn mập, đuôi ngắn, miệng ngậm ngọc hay ngồi chống chân lên quả cầu (Hình 6). Con nghê có kỳ mà không có sừng, dáng thanh, mình thon nhỏ, trông giống như dáng chó đuôi dài.Việc phân biệt này đôi khi cũng gây ra tranh cãi. Một số bình hương, chân đèn gốm Việt Nam thời Chu Đậu, cũng có hình lân, nhìn vào thấy rõ lân chứ không phải nghê. Tuy nhiên ngay cả “Vietnamese ceramics a separate tradition” của John Guy và Jonh Stevensen cũng đôi khi mắc lỗi ghi chú nhầm con nghê vào một số hình con lân bên nhiều bình hương trầm cần minh họa.
Người Việt nuôi trâu cày, nuôi chó giữ nhà và coi chúng thật gần gũi. Trong đời sống tinh thần, tổ tiên ta cần có linh vật để xua đuổi tà ma, ác quỷ và canh giữ cho gia chủ. Vì thế mà chó đá được dựng lên trước mỗi cổng làng, cổng đình, cổng nhà, ngoài đầu hồi… tại nhiều làng quê miền Bắc nước ta. Để bày trước điện thờ của các nhà giàu có, hay các đền thờ, đình, miếu… chó đá hóa linh, được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ (Hình  7), mà dần thành con nghê?
Mô típ trang trí được đồng bào dân tộc Dao Tiền phía Bắc nước ta rất ưa sử dụng là hình hai con chó “Tua chồ” chụm đầu lại. Người Dao Tiền xem như bùa hộ mệnh, vật linh thiêng bảo vệ cho chủ sở hữu tránh được thú dữ, thiên tai. Vậy chó “Tua chồ”  được dệt trên vải thổ cẩm ở đuôi thắt lưng người Dao Tiền, với lối tạo hình cách điệu, phải chăng chính là hình tượng con Nghê?
Nghê có mặt trong nhà, từ dân dã đến trưởng giả, hay cung điện, đình, đền, chùa, lăng, miếu. Suốt nhiều thế kỷ, trên các bình hương, nậm rượu, không thể thiếu nghê ở những nơi tế tự. Sau khi thống nhất sơn hà, nhà Nguyễn - có lẽ do mặc cảm và thù ghét các dấu vết văn hóa thời Trịnh và Tây Sơn, nên đã ưa chuộng văn hóa Trung Quốc  hơn. Có lẽ thế mà cùng với việc con rồng Việt uyển chuyển thời Lý, Trần, Lê được thay bằng con rồng Trung Hoa thân mập, vảy to, mặt ngắn; đồ gốm Tàu thay thế sản phẩm của những làng nghề truyền thống và dĩ nhiên con nghê ít được dùng, bị lai dần theo cách tạo hình con lân của Trung Hoa (Hình 8). 
Nhà sưu tập Nguyễn Thị Tú Anh ở Tp. Hồ Chí Minh hiện sở hữu bộ sưu tập nghê gỗ hơn năm mươi con, có niên đại từ thời Lê tới  đầu Nguyễn. Xin chọn 3 con nghê của bà để giới thiệu và so sánh:
    
Nghê, gỗ, thời Nguyễn, đầu thế kỷ XIX Nghê, gỗ, thời Lê, TK XIV-XVII Nghê, gỗ chạm, sơn thếp vàng của người Hoa vùng Nam Bộ, TK XVIII
1. Tượng nghê, (gỗ chạm  thời Lê - Bắc Bộ), ngồi trên bệ chống hai chân trước, dáng thu mình vươn cao, tư thế ngẩng đầu, cổ vươn, mặt hướng lên phía trên, mắt lồi, mũi nở, miệng rộng ngậm, tai có hình như tai voi nhỏ, có năm vòng râu xoăn nổi, bờm tóc kết thành bốn sóng to, đăng đối hai bên, ức nở, đầu, thân và đùi có chạm nổi vảy rồng, lưng khum có hình mây lửa, đao, mác, nhìn nghiêng chân và đùi là những tua hình mác uốn cong như sóng lượn, bàn chân có móng vuốt, đuôi vắt từ trái sang phải.
2. Tượng nghê, gỗ chạm thời Nguyễn, quỳ hai chân trước trên bệ, dáng vừa  như rình mồi với tư thế như chuẩn bị phóng vút đi. Lông mày xoáy trôn ốc. Mắt lồi, mở to có lòng trắng và con ngươi, miệng ngậm nhưng vẫn chìa hai nanh dữ tợn, ria mép xoắn ốc, hai râu xoáy ốc dưới cằm như sư tử, mũi nở nhưng tẹt, hai tai vểnh. Đùi nổi rõ khối bắp thịt cuồn cuộn, cơ lưng gồng lên. Mông nở to, bờm và đuôi xoè hình lửa có xoắn ốc nổi rõ như xoắn ốc trên đầu tượng phật. Hai ngọn mây lửa ở cẳng chân sau. Bốn bàn chân xòe rộng, mỗi chân đều có bốn có móng vuốt như móng sư tử. Lớp sơn son thếp vàng được tô ở bên ngoài không đơn thuần chỉ là sơn để phủ mà còn góp phần tăng hiệu quả tả thực, phù hợp với mục đích thờ cúng. Ngoài việc tiếp thu những mô típ hình lửa, đao, mác như thời Lê, trong nghệ thuật tạc gỗ kết hợp với chạm khắc, nghệ nhân thời Nguyễn  còn  đi sâu vờn tròn các khối tượng cũng như các chi tiết trang trí, tả thực cơ bắp đùi, mông, lưng, móng vuốt, lông mày của con nghê.
3. Tượng nghê, gỗ, chạm của Người Hoa ở Nam Bộ, chạm khắc đơn giản, sơn đen phủ tượng, sau đó phủ ra ngoài lớp thếp vàng óng ánh. Nghê ngồi trên bệ, hai chân sau thu lại, đứng thẳng hai chân trước vòng cuốn cổ đeo ba lục lạc, cổ vươn cao, ngẩng đầu có ba sừng, miệng ngậm ngọc, bờm và lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ có nhiều tua tia lửa chạy suốt từ đỉnh đầu đến sống đuôi. Ngoài ra còn có dải chấm tròn nổi khối (đăng đối hai bên dưới mép hàng kỳ tiếp xúc với gáy nghê nổi khối trên lưng nghê). Ở nách có ba tia đao mác, giữa cẳng chân có ba u tròn và ba tia đao mác chạm nổi đăng đối hai bên. Bàn chân trước có ba ngón không chạm rõ vuốt, phía sau chân trước có ba u tròn nổi rõ. Cùng chất liệu gỗ, chạm, cùng miêu tả nghê, nhưng với 3 thời kỳ khác nhau, ta có ba con Nghê với những giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật  khác nhau.
Con nghê thời Lê, niên đại sớm hơn (khoảng TK XVI - XVII) với cách tạo dáng vững chãi, nửa như đứng chầu, nửa như muốn bay lên trong khoảnh khắc muốn hóa rồng. Những mảng khối âm, dương hoà quyện khá tinh tế tạo nên một dáng vẻ tự tin. Nghệ thuật tạo hình phối hợp yếu tố chạm khắc trang trí vừa đơn giản, vừa cách điệu đã tạo nên những chi tiết vừa khỏe khoắn, khúc chiết, vừa mềm mại, thanh thoát, mang tính trang trí cao. Mây hình ngọn lửa, đã trở  thành như một dấu hiệu, như một chữ ký của những tác phẩm trang trí  thời Lê. Những vẩy rồng trên đầu và thân tạo cho nghê thêm linh thiêng.
Con nghê thời Nguyễn, niên đại muộn hơn (khoảng đầu TK XIX), kích thước nhỏ hơn, hình khối căng tròn đầy và có xu hướng tả thực ở lưng, chân, đùi. Những râu, ria, bờm, tóc và đuôi được diễn tả bằng những đường nét trang trí khá trau chuốt, tỉ mỉ thậm chí đến mức cầu kỳ. Dáng nghê nhìn từ đằng sau có phần thô và nặng nề, với cái đuôi xòe tròn, xoắn ốc, hai chân thô và ngắn có đôi tai vểnh như tai miêu… hao hao như  những hình mẫu kiểu con lân của Trung Quốc.
Con nghê do người Hoa ở Nam bộ làm (khoảng TK XVIII) các chi tiết chạm không rườm rà, ngược lại được diễn tả mượt mà, đơn giản, có nhiều khối hình như được chuốt tới mức nhẵn phồng, căng bóng. Đặc điểm và nét dáng con nghê này gần giống với chó có đầu hơi to trong đời sống thực. Nơi sông nước, kênh rạch, trong suốt quá trình khẩn hoang, con chó luôn gần gũi, gắn bó với con người Nam Bộ nói chung và người Hoa nói riêng. Dần theo năm tháng, được biến thể thành con nghê. Nhờ sự gắn bó lâu đời nên thẩm mỹ  tạo hình của người Hoa ở Nam Bộ cũng “Việt hóa”, đơn giản, chân phương, phóng khoáng, không cầu kỳ làm điệu. Do đó, con nghê có vẻ đẹp riêng, mà không bị  ảnh hưởng, sao chép những công thức tạo hình bóng bảy, cầu kỳ như tổ tiên họ ở Trung Quốc  vẫn hay làm.
 ( http://battrang.info )